Cải Lương

Cải lương là gì? Nguồn gốc các bài bản trong cải lương

 Li Nguyen    24/08/2019 2:27:00 SA   33 lượt xem

(cailuongmp3.com) - Thực tế, khi nhắc đến cải lương thì đối với người miền Nam cũng như người miền Bắc đều nghĩ đến bài Vọng cổ trước tiên. Rất ít người biết rõ xuất xứ, quá trình hình thành và diễn tiến của ngành nghệ thuật sân khấu đặc biệt.của miền Nam này.

Vậy trong bài viết này, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu rõ hơn những vấn đề liên quan đến cải lương nhé!

Cải lương là gì

Cải lương là gì? Quá trình hình thành và phát triển cải lưởng ở Việt Nam.

Nơi phát xuất ra Hát cải lương chính là miền Nam của Việt Nam. Dân ca miền Nam đã phối hợp những đặc trưng của dân ca miền Bắc, miền Trung, thêm vào đó những sắc thái cổ truyền của nhạc Cao Miên, Trung Hoa, Chàm. Do đó, dân ca rất phong phú về giai điệu cũng như tiết tấu qua những điệu lý, điệu hò, nói thơ.

  • Khởi đầu vào cuối thế kỷ thứ 19, những cuộc hát cúng đình hay hát bội được tổ chức hàng năm vào kỳ lễ thần linh. Và vào đầu thế kỷ 20, ngành ca hát được bành trướng hơn và trở thành một bộ môn giúp vui trong các dịp tiệc tùng , cưới hỏi.
  • Trước thế chiến thứ nhất (1914-18), ở miền Nam vào thời điểm, một số nhà yêu nhạc cổ như Trần Văn Thiệt, Tống Hữu Định đã đưa một số bài nhạc cổ trong đàn tài tử lên sân khấu vừa hát vừa ra bộ diễn cảnh Bùi Kiệm thi rớt và được nhiều sự yêu thích. Sau khi diễn ra một số sự kiện thì người đến nghe loại nhạc tài tử này càng ngày càng đông. 

Đoàn hát chuyên nghiệp đầu tiên có đủ đào kép, có cả người soạn tuồng và đặt lời ca được Thầy André Thận ở tỉnh Sa Đéc thành lập vào năm 1918 lấy tên là gánh Thầy Thận. Sau đó, gánh này sống không lâu, phải rã gánh .

Sau sự kiện chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc thì cải lương dần dần lan ra Trung và Bắc.

  • Cải lương dần dần lan ra Trung và Bắc sau thế chiến thứ nhất (1914-18). Cho tới năm 1925, Hà Nội vẫn chưa có gánh hát cải lương chuyên nghiệp. Đến giai đoạn 1928-37, các tuồng Tàu, tuồng Tây được đem đi diễn khắp nơi và nhiều điệu hát mới được sáng tác. Tuy nhiên thì giờ đây diễn xuất giữ phần quan trọng hơn là có giọng ca mùi như xưa . Nghệ sĩ phải thuộc tuồng chứ không có người nhắc tuồng như trước.
  • 1925, một nhóm sinh viên cao đẳng diễn tuồng Châu Trần Tiết Nghĩa của Nguyễn Văn Tệ.
  • 1927 một nhóm phụ nữ ở Hà Nội diễn tuồng Trang Tử Cổ Bồn dựa vào tích xưa. Dư luận thời đó đã công kích ban Nữ tài tử với những lời chỉ trích các bà thích lên sân khấu làm trò .
  • Đến cuối năm 1925 và đầu năm 1926 mới có nhóm tài tử Đồn Ấu ở Sán Nhiên Đài và nhóm tài tử phố Hàng Giấy mướn rạp ông Ba Bỏ ở Ô Chợ Dừa.
  • 1927 tiếp tục gánh Nghĩa Hiệp Ban ra Bắc với những tuồng Tàu như Lã Bố Điêu Thuyền, Tra Ấn Quách Hòe, vv… Rạp Quảng Lạc, rồi rạp chèo Sán Nhiên Đài đều đổi thành rạp cải lương.
  • 1928 - 1937, các tuồng Tàu, tuồng Tây được đem đi diễn khắp nơi và nhiều điệu hát mới được sáng tác như bài Tiếng Nhạn Trong Sương, Hoài Tình , Chuồn Chuồn. Những bài hát Tây được dịch ra lời Việt như « Pouët Pouët » trong vở tuồng Tiếng Nói Trái Tim.
  • 1935 tới năm 1941 nhiều gánh hát được thành lập ở miền Bắc như Nhật Tân Ban, Quốc Hoa, Tố Như, Ái Liên (nữ nghệ sĩ Ái Liên là mẹ của nữ ca sĩ Ái Vân, nữ ca sĩ Ái Xuân, từ trần năm 1992), Đức Huy, Nam Hồng, vv… Nhiều gánh còn vô trong Nam diễn được thành công . Một số gánh hát như An Lạc Ban, Phước Cương, Tân Hí Ban, Trần Đắt, Năm Phỉ, Phụng Hảo, Thanh Tùng, Năm Châu, Kim Thoa ra Bắc được khán giả mến mộ.
  • 1940 - 1945, các loại tuồng vừa kể trên không còn ăn khách nữa. Cố nghệ sĩ Năm Châu mới viết một số tuồng xã hội như Tìm Hạnh Phúc, Khi Người Điên Biết Yêu nói lên tâm trạng xã hội Việt Nam thời đó và rất được hoan nghinh và chào đón.
  • 1960 - 1970, loại hồ quảng dù đã được phát hiện từ năm 1935 với nữ nghệ sĩ lão thành Phùng Há, bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Nữ nghệ sĩ Phượng Mai (hiện chuyển sang tân nhạc ở hải ngoại) đã được nổi tiếng trong lĩnh vực này trước 1975 cùng với nữ nghệ sĩ Bạch Lê (hiện sinh sống tại Pháp).
  • Ở miền Nam , ký giả kịch trường Trần Tấn Quốc đã sáng lập ra giải Thanh Tâm hàng năm tặng cho một nghệ sĩ cải lương. Người đầu tiên nhận giải là cố nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Sau đó Ngọc Giàu, Bạch Tuyết , Lệ Thủy, Mộng Tuyền, Diệp Lang, vv... đã tiếp nối nhận giải cho tới những năm 1975. Và trải qua bao biến chuyển trong cải lương với những đề tài khác nhau, bài vọng cổ càng ngày càng có một chỗ đứng quan trọng trong cải lương nói riêng, và trong cổ nhạc nói chung. Không một vở tuồng nào không được nghe ít nhất là năm hay sáu lần.
  • 1975, sau khi chấm dứt chiến tranh giữa miền Nam và miền Bắc, một số nghệ sĩ cải lương ra đi tỵ nạn. Tại Saigon, sau khi nữ nghệ sĩ Thanh Nga từ trần trong một tai nạn mà tới nay vẫn chưa tìm được nguyên do vì sao, những nghệ sĩ kỳ cựu như Phùng Há, Bảy Nam (từ trần), Kim Cúc (từ trần), Kim Lan (từ trần), Út Trà Ôn (từ trần), hay các nghệ sĩ Văn Thái, Ánh Tuệ, Khánh Hợi của cải lương miền Bắc, những nghệ sĩ cải lương còn lại của chế độ cộng hòa miền Nam vẫn tiếp tục trình diễn và gặt hái nhiều thành công như Ngọc Giàu, Bạch Tuyết, Lệ Thủy, Kim Cương, Thanh Vi, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, Minh Vương, Diệp Lang. Những tài năng trẻ tiếp nối cũng rất ăn khách như Vũ Linh, Vũ Luân, Thoại Mỹ, Thoại Miêu, Phượng Loan, Phượng Hằng, Trọng Phúc, Tài Linh (định cư ở Mỹ năm 2005), Ngọc Huyền (định cư ở Mỹ), Kim Tử Long, Tú Sương, Ánh Hoa. Các nghệ sĩ có nhiều triển vọng qua các giải Trần Hữu Trang cho thấy số lượng ngày càng đông, đặc biệt là trong năm 2007 những giọng ca có thể trở thành những nghệ sĩ tài danh trong tương lai như Hồ thị Ngọc Trinh, Phan Minh Đức, Oanh Kiều, Hoa Phượng, Thi Nhung, Diễm Kiều, Ngọc Tuyền, Trung Thảo, Trúc Ly, Hoàng Khanh, Mỹ Vân, Hải Yến, Hải Long , vv…Giờ đây diễn xuất giữ phần quan trọng hơn là có giọng ca mùi như xưa. Nghệ sĩ phải thuộc tuồng chứ không có người nhắc tuồng như trước.

Cải lương là gì

Cấu trúc dàn nhạc trong cải lương

Một ban nhạc tài tử khi hòa tấu tại phòng khách gồm có:  1 đàn kìm, 1 đàn tranh, 1 đàn cò, 1 đàn độc huyền, 1 sáo hay tiêu. Khi trở thành dàn nhạc cải lương thì số lượng nhạc cụ trở thành quan trọng hơn : 1 trống ban, 1 song lang, 1 cặp não bạt, 1 đồng la, 1 đàn cò, 1 đàn gáo, 1 đàn kìm, 1 đàn tam, 1 đàn đoản, 1 đàn tranh. 

Từ 40 năm nay, ghi-ta phím lõm giữ vai trò chánh trong dàn nhạc cải lương, và mấy lúc sau này đàn ghi ta phím lõm có gắn điện giống ghi-ta điện của nhạc trẻ kích động . Cố nhạc sĩ Văn Vĩ là người có ngón đờn ghi-ta phím lõm huyền diệu nhất. Ngoài dàn nhạc cổ, còn có thêm dàn nhạc Tây phương với piano, saxo, clarinette, trống , ghi-ta điện, và đàn synthé (hay organ).

Cải lương là gì

Làn điệu câu hát, câu hò trên sân khấu cải lương

Những bài bản được nghe trong tuồng cải lương đều phát xuất từ dân ca cổ nhạc miền Nam phần lớn, và những làn điệu trong nhạc đàn tài tử, một loại nhạc thính phòng miền Nam. Có thể phân loại một số bài bản thông dụng như sau : những điệu ca dân gian như những điệu Lý, những bài nhạc lễ cung đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương và những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát cải lương,...

  • Những điệu ca dân gian như những điệu Lý, ở miền Nam có hàng chục bài Lý: Lý con sáo, Lý thập tình, Lý ngựa ô, Lý giao duyên, Lý vọng phu, Lý chiều chiều, Lý bình vôi, Lý chuồn chuồn, vv… Có Lý ngựa ô Bắc, lý ngựa ô Nam. Từ điệu Lý ngựa ô biến thành điệu cải lương Ô Mã 18 câu nhịp đôi. Mỗi một bài diễn tả một tâm trạng mà người viết tuồng phải nắm vững để tránh bị sai lầm. Khi vui tươi thì sử dụng điệu Lý ngựa ô. Khi bâng khuâng thì điệu Lý con sáo. Lúc kể lể thương đau thì hát Lý chuồn chuồn. Khi ru con thì hát Lý giao duyên, vv… Đến những điệu ngâm cũng phải biết lúc nào ngâm theo thể ngâm nào. Có nhiều loại ngâm như Ngâm Kiều (còn gọi là Lẫy Kiều), ngâm Sa Mạc, Bồng Mạc, ngâm Sổng, nói thơ Lục Vân Tiên, ngâm thơ Tao Đàn, hò.
  • Qua những bài nhạc lễ cung đình trong hát bội sau được cải biên dùng trong cải lương như Vũ Biền Xuất Đôi, Nam Xuân, Nam Ai, Nam Đảo, Ngũ Đối Thượng, Ngũ Đối Hạ, vv…
  • Với những sáng tác mới sau này khi có ca ra bộ, hát cải lương như Văn Thiên Tường, Tứ Đại Oán, Trường Tương Tư, Lưu Thủy Trường, Ái Tử Kê, Vọng Cổ, vv…
  • Và những điệu hát lấy từ nhạc nước ngoài nhứt là từ Trung quốc, nhạc Quảng Đông xuyên qua các bài Xang Xừ Líu, Khốc Hoàng Thiên, Liễu Xuân Nương, Bản Tiều, Lạc Âm Thiều, vv…
  • Theo lời đồn trong làng cải lương thời đó, cho rằng thầy ký Trần Quang Quờn, tự Thầy Ký Quờn, quê ở Vĩnh Long, đã sáng tác hai bài Tứ Đại Oán và Văn Thiên Tường cách đây hơn 80 năm. Đặc biệt là bài Tứ Đại Oán đã khơi nguồn cho hát ca ra bộ trước khi hát cải lương thành hình.
  • Những điệu hát quen thuộc khác đã được ông Sáu Lầu sáng tác là bài Dạ Cổ Hoài Lang , trở thành Vọng Cổ Hoài Lang (1936) và Vọng Cổ sau đó. Chính bài hát này đã dính liền với sân khấu cải lương . Nhạc sĩ và thầy tuồng Nguyễn Tri Khương (từ trần 1962) (cậu của GS Trần Văn Khê, và ông cậu của tôi) đã sáng tác một số bài bản mới như Bắc Cung Ai, Phong Xuy Trịch Liễu, Yến Tước Tranh Ngôn cho vở tuồng, Giọt lệ chung tình vào năm 1927 cho gánh hát Đồng Nữ Ban do bà cô ba của tôi là Trần Ngọc Viện sáng lập. Nhưng cho tới ngày nay không thấy ai dùng các bài này trong cải lương. GS Trần Văn Khê có thu vào dĩa hát bên Pháp vào năm 1959.
  • Như Nhạc sĩ Tư Chơi đã sáng tác một số điệu hát vào năm 1937 như Trông Thấy Ai Xinh Thay ! và Xin Thề. Cố nghệ sĩ Bảy Nhiêu đã sáng tác bài Hoài Tình .
  • Nhạc sĩ Mộng Vân trong những năm 1939-40 đã sáng tác nhiều bài ngắn như Tấn Phong, Túy Tửu, Thu Phong Nguyệt, Giang Tô, Sương Chiều, Tú Anh, Tô Vũ, Nặng Tình Xưa, vv…Nhạc của Mộng Vân có điệu gần gủi với phong cách cải lương, nhưng cũng có điệu lai căng, chịu nhiều ảnh hưởng Tây phương.

Bài viết trên đã cung cấp cho bạn một số thông tin về nguồn gốc của loại hình nghệ thuật dân tộc cải lương, về quá trình hình thành, cấu trúc dàn nhạc và các làn điệu trên sân khấu cải lương cũng như nhạc cải lương mp3. Hy vọng sẽ cung cấp cho quý độc giả kiến thức hữu ích.

Hát Chầu Văn MP3, máy phát điện 3 pha, sach toi pham hoc, trich doan cai luong mp3, ve sinh may lanh tan nha, co so may dong phuc, thu mua may lanh cu

Cải Lương liên quan

Bản vọng cổ là gì? Tại sao bản vọng cổ Hoài Lang trở nên kinh điển với người yêu vọng cổ  96

 27/08/2019 11:57:40 CH

Bản vọng cổ Hoài Lang trở nên kinh điển, và được người yêu vọng cổ luôn nhắc tới nhờ vào những cái hay, cải kỳ diệu trong Bản Vọng Cổ. Cùng mình tìm hiểu nhé.

Xem chi tiết 

Sự hình thành nghệ thuật sân khấu cải lương  74

 27/08/2019 11:31:26 CH

Cải lương được coi là một hình thức ca kịch của dân tộc. Nhắc đến vấn đề này thì trước hết phải đề cập đến vấn đề âm nhạc, vì âm nhạc là xương sống, là linh hồn của kịch chủng.

Xem chi tiết 

Nghệ thuật cải lương tuồng cổ mang lại giá trị gì cho dân tộc  54

 25/08/2019 3:52:50 CH

Nghệ thuật cải lương được coi là viên ngọc quý và đầy sức sáng tạo trong dòng chảy lịch sử nghệ thuật dân tộc.

Xem chi tiết 

Cải lương hồ quảng là gì?  62

 25/08/2019 3:42:32 CH

Sau đây, cải lương mp3 xin giới thiêu đến bạn đọc định nghĩa cải lương hồ quảng là gì, nguồn gốc của cải lương hồ quảng.

Xem chi tiết 

Top 10 vở cải lương hay nhất vượt thời gian  93

 25/08/2019 3:25:24 CH

Loại hình nghệ thuật dân tộc cải lương đã trở thành nét đẹp văn hóa truyền thống đáng quý của người Nam Bộ nói riêng và người Việt Nam nói chung trải qua bao đời nay.

Xem chi tiết 

Những cặp bạn diễn cải lương hay nhất mọi thời đại  43

 25/08/2019 3:16:18 CH

Cùng tìm hiểu những cặp bạn diễn vàng trên khấu cải lương trong bài viết dưới đây nhé. Họ không chỉ là đồng nghiệp mà còn trở thành những người bạn tâm giao trong cuộc sống.

Xem chi tiết 

Quảng cáo

Nhạc Nghe Nhiều Nhất 2019

Bạn vui lòng chờ trong giây lát...